メニュー

新着情報

THỰC TRẠNG BÁO ĐỘNG CỦA LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TẠI NHẬT BẢN

カテゴリ: Tiếng Việt (ベトナム語) 公開日:2018年12月03日(月)

Thực trạng báo động của lao động nước ngoài tại Nhật Bản: 100 người thiệt mạng trong 10 năm, 2500 người bị thương mỗi năm!

Bởi

 

Các vụ tai nạn lao động đã giết chết 125 người nước ngoài tại Nhật Bản trong 10 năm, tính đến năm 2017 và làm bị thương khoảng 2500 người mỗi năm, theo số liệu từ Bộ Lao động.

Phần lớn các vụ tai nạn lao động xảy ra trong lĩnh vực xây dựng và sản xuất, với việc công nhân rơi xuống từ độ cao chết người trên các công trình xây dựng đang thi công, bị mắc kẹt trong các máy móc sản xuất hay là bị xe đâm.

anh 1.jpg

 

Những công việc “3 chữ K”

Người Nhật luôn xem các công việc trong các lĩnh vực lao động chân tay này là các công việc “3 chữ K”: kitanai, kitsui và kiken – bẩn, khó khăn và nguy hiểm. Với tỉ lệ sinh tự nhiên ngày càng giảm, cũng như thực trạng thiếu hụt lao động ngày càng trở nên tồi tệ hơn, các vị trí công việc mệt nhọc này chỉ có thể được lấp đầy bởi những người lao động nước ngoài – những người ít kinh nghiệm làm việc trí óc và sẵn sàng chấp nhận những rủi ro để có thể trang trải cuộc sống.

anh 2.jpg

 

Bộ Lao động Nhật Bản cho biết sẽ giám sát và nhắc nhở các công ty về trách nhiệm của họ nhằm đảm bảo các biện pháp bảo hộ lao động tiêu chuẩn sẽ được áp dụng cho tất cả các nhân viên, cũng như cố gắng hơn nữa để giúp những lao động nước ngoài – những người không có đủ trình độ tiếng Nhật hiểu hết về các quy định về an toàn lao động, nhận được sự theo dõi đặc biệt đối với tình trạng sức khỏe của mình.

anh 3.jpg

 

Bộ Y tế cũng có kế hoạch tạo ra các văn bản hướng dẫn an toàn lao động bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, phía luật sư bảo vệ quyền lợi của những người lao động nước ngoài nhấn mạnh rằng cần phải có nhiều biện pháp thiết thực hơn nữa, điển hình như người thân của những người chết hoặc những lao động bị thương nặng cần được cung cấp các thông tin cần thiết để có thể tiếp cận được những khoản bồi thường lao động mà họ được nhận.

Người lao động nước ngoài đang bị vắt kiệt

Một trong những mối quan ngại lớn khác đó chính là Chương trình Thực tập Kỹ thuật, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1993 và được chính phủ mô tả như là một kế hoạch đào tạo giúp các công dân từ các nước đang phát triển học được các kỹ năng lao động mới tại Nhật, sau đó sẽ về nước và chuyển giao lại các kĩ năng này cho nền sản xuất nước nhà.

 

 

Tuy nhiên, chương trình này đã bị chỉ trích một cách dữ dội, bởi vì các nhà tuyển dụng đã lợi dụng kế hoạch này để có thể tiếp cận được với nguồn lao động rẻ và tay nghề chưa cao. Đã có nhiều vụ việc lùm xùm về các doanh nghiệp bóc lột người lao động bằng cách trả ít hơn mức lương tối thiểu bắt buộc theo quy định pháp luật, bắt họ làm việc thêm giờ không lương, cung cấp cho nhân viên chỗ ở không đạt tiêu chuẩn và các điều kiện lao động nghèo nàn khác.

anh 5.jpg

Những con số đáng buồn

Thống kê của Bộ Lao động cho biết đã có tới 22 học viên nước ngoài chết trong các vụ tai nạn lao động trong 2 năm 2014 – 2016, trong đó có một công dân Philippines đã chết vì “karoshi” – làm việc quá sức. Con số này tương tương với khoảng 3,7 người thiệt mạng/ 100.000 lao động, gấp đôi tỉ lệ của các học viên người Nhật.

Ngoài ra, điều kiện làm việc tại một số doanh nghiệp tham gia vào chương trình đào tạo này của chính phủ quá tệ hại, dẫn đến việc nhiều thực tập sinh đã bỏ trốn và bắt đầu làm việc bất hợp pháp ở bên ngoài.

“Ước tính có khoảng 65.500 người lao động nước ngoài đã bị quá hạn thị thực và đang làm việc một cách bất hợp pháp tại Nhật Bản hiện tại, chủ yếu đến từ 3 nước châu Á là Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan”.

Cuộc sống của người lao động nước ngoài tại Nhật: đâu phải màu hồng

Vào đầu tháng 11, 5 thực tập sinh nước ngoài đã xuất hiện và lần đầu tiên được lên tiếng trong một phiên họp Quốc hội Nhật Bản, chia sẻ về những kí ức kinh hoàng của họ về cuộc sống tại Nhật Bản, về mức lương thấp, tình trạng đãi ngộ nghèo nàn và cả những tai nạn và vết thương mà họ phải chịu đựng.

anh 6.png

Một thực tập sinh Việt Nam xuất hiện với đôi bàn tay bị thương đến biến dạng của mình trong phiên họp Quốc hội.

Một phụ nữ Trung Quốc làm việc tại một nhà máy may ở tỉnh Gifu chia sẻ rằng cô chỉ được trả ¥300 cho 1 giờ lao động, ít hơn 1 nửa so với mức lương tối thiểu theo pháp luật và bị ép phải làm việc từ 8 giờ sáng đến nửa đêm. Một người khác chia sẻ rằng cô thậm chí đã cố gắng tự tử bằng cách nhảy từ mái nhà của công ty chế biến giấy nơi mình đang làm việc ở Shizuoka sau khi bản thân bị bắt nạt và quấy rối nhiều lần.

nguồn : suu tâm

外国人を雇用する理由

カテゴリ: コラム 公開日:2019年03月12日(火)

こんにちは。

 

外国人人材紹介サービス

株式会社TOHOWORKの和田です。

 

少しずつではありますが、「特定技能1号」の要件が出てきました。

4月から始まる3業種の「宿泊」「外食」「介護」の試験が4月中に行われる可能性が出てきました。

その中で日本で受けることができるのは「宿泊」と「外食」の2つのみのようです。

「介護」の試験はベトナムとフィリピンでのみ開催されるようです。

試験内容については依然、発表はされていませんが実技のテストも行われるようです。

開催場所は、大阪と東京で行われるという情報があります。

受験に関する申込み方法及び日時ならびに受験料などはまだ発表されていません。

将来的に「外食」や「宿泊」の職種で日本で働きたいと考えている人にはぜひ受けていただきたいですね。

また、新たに情報が入り次第、こちらで情報の共有をさせていただきたいと思います。

 

 

 

さて、それでは今日のテーマへ行きましょう。

今日のテーマは「外国人雇用の理由」です。

 

thZ93HSZRE

 

 

外国人を雇用するためには本人が今までに学んできた専門性と会社の業務内容とに関連性がなければなりません。

今回ご紹介するお話は、国際結婚をして外国人である配偶者の身内を自分の会社に入社させる時に起こったトラブルです。

今後、日本でも外国籍の方と結婚されるご家庭が増えて来るでしょう。

その時に人情やコネなどを理由に入社を許可してしまうことがあるかもしれません。

今日もある事例をもとに検証していきたいと思います。

 

 

 

CASE STUDY⑩ どうして外国人を雇いたいのか

 

  ビル管理業を主たる業務とする株式会社甲建物管理(以下、「甲管理」とする)の代表取締役Aは、韓国人であるBと結婚している。ある日、AはBから今年日本の大学(文学部英文科)を卒業する甥の柳氏(25歳/男性/韓国籍)を甲管理で就職させてほしいと頼まれた。

 この点、現在の甲管理のオペレーションにおいて必要な人材は、現場の清掃の現場業務担当者であり、同担当者は慢性的に人材不足となっていたのでAはBに対して柳氏を甲管理で採用することを了承した。

 その後、柳氏は入管当局へ「留学」から「技術・人文知識・国際業務」の在留資格変更許可申請をしたところ、入管当局から2週間も経たないうちに通知書(不許可の旨記載)が送られてきた。

 そこで、柳氏はAとともに入管当局へ不許可説明を聞きに行くと、不許可説明担当官から「『技術・人文知識・国際業務』の在留資格では、清掃等の現場業務はできない。営業や管理業務であれば許可を得る可能性もあるが、これについては雇用者とよく話し合ってほしい」との説明があった。

 その後、Aは営業や管理業務担当者は特に必要としていなかったため(また、このような「社内での教育」を前提とする「新卒採用」をする余裕はないため)、柳氏の採用を取り消すことにした。

 ところが、AはBに柳氏を採用できない旨を告げたところ、それを聞いたAの韓国籍の妻と大喧嘩になり、妻の手前Aは採用取り消しを撤回するしかなかった。

 

avbugf 

 

 

 

解説

 

今回のケースのようなことは、外国人配偶者を持つ中小企業の経営者にはよくあることです。(特にアジア系の配偶者にその傾向があります)。

今回のケースにおける一番の問題点は、Aおよび甲管理に「外国人材を雇用する理由」がなかったことです。

一見「経営者の妻の甥」というのは「外国人材を雇用する理由」になりそうですが、甲管理のオペレーション上の理由ではないので「外国人材を雇用する理由」にはなりません。

つまり、柳氏は甲管理にとって必要な外国人材ではないのです。

それにもかかわらず、さらには入管当局から不許可処分を受けてもAは「妻の甥」という理由だけで柳氏の採用を継続し、再度「技術・人文知識・国際業務」への在留資格変更許可申請をしようと考えています。

しかしながら、一度不許可になった時点で採用を取り消そうとしたAですから、再度の柳氏の在留資格変更許可申請の煩雑さに耐えることができないかもしれません。

この点、甲管理のオペレーションによって必要なのは、現場の清掃員であり営業や管理業務の担当者ではありません。

しかも、新卒採用をする余裕がない甲管理に「新卒枠」で柳氏を入社させようとするのですから、その歪が甲管理のオペレーションに出る可能性もあります。

このような場合、Aは柳氏を雇用する理由を明確にし、甲管理のオペレーションにおいて柳氏を活かす担当業務を作る必要があります。

例えば、これまでなかった在日韓国人をはじめとする外国人オーナー向けの新規営業や全く新規の事業を立ち上げる等です。

 

 

ajighaih

 

CHUYỂN VIỆC TẠI NHẬT: CẦN LƯU Ý GÌ KHI NỘP HỒ SƠ ỨNG TUYỂN ?

カテゴリ: Tiếng Việt (ベトナム語) 公開日:2018年11月30日(金)

Chuyển việc tại Nhật: Cần lưu ý gì khi nộp hồ sơ ứng tuyển?

 

cover-1-702x336.jpg

 Đối với các bạn đã từng có kinh nghiệm đi làm sau khi ra trường, thì khi đi xin việc (chuyển việc) tại Nhật, ngoài bản sơ yếu lí lịch(履歴書), còn cần chuẩn bị thêm một bản 職務経歴書 (đọc là しょくむけいれきしょ、tạm dịch: bản tường thuật chi tiết kinh nghiệm làm việc) để PR được tốt nhất kinh nghiệm của bản thân.

    Trong bài viết này, giới thiệu với các bạn những thông tin tổng hợp nhất về cách viết 職務経歴書、form download mẫu theo từng ngành nghề và cả phần tổng hợp những lỗi thường gặp khi viết nữa.

 

1. Vai trò của 職務経歴書 và link download

Vai trò

  • 職務経歴書 (Bản tường thuật chi tiết kinh nghiệm làm việclà hồ sơ quan trọng trong bộ hồ sơ xin việc của những ứng viên đã từng có kinh nghiệm làm việc trước đó, đặc biệt là khi chuyển việc (転職)
  • Khác với mục 職歴 trong 履歴書 chỉ ghi vắn tắt về nơi làm việc, thời gian làm, vị trí công tác,…職務経歴書 tổng hợp chi tiết và cụ thể hơn về quá trình làm việc trước đó của ứng viên như:quy  & lĩnh vực hoạt động của công ty, hình thức tuyển dụng,công việc cụ thể  ứng viêntừng phụ trách, các kĩ năng – kinh nghiệm có được thông qua công việc đó,…

=> Khi ứng tuyển, bạn cần nộp theo set gồm 2 hồ sơ 履歴書 và 職務経歴書

>>>Xem thêm: Hướng dẫn chi tiết cách viết 履歴書 kèm link download <<<

Link download

■ Có 2 dạng 職務経歴書 cơ bản, thích hợp với các công việc khác nhau

  • Loai 1 : Tóm tắt kinh nghiệm theo nội dung công việc (業務内容ごと)
     Thích hợp dùng cho các công việc như : 営業、企画、事務、v.v..
  • Loại 2 : Tóm tắt kinh nghiệm theo từng dự án (プロジェクトごと)
    Thích hợp dùng cho các công việc thiên về kĩ thuật như kỹ sư IT, chế tạo máy,..

 

■ Link download template của 職務経歴書 theo từng ngành nghề : Click vào đây

2. Các lỗi thường gặp khi viết 職務経歴書

Trường hợp 1

img_p01.gif

 Chú thích: Các lỗi sai thường gặp 1 (Nguồn ảnh: doda.jp)

① Quá nhiều trang :

 Nhà tuyển dụng rất bận, nên tối kị viết hồ sơ quá dài.  Độ dài lý tưởng là từ 1-2  trang

② Dùng giấy màu hoa văn

  Hãy soạn trên giấy khổ A4, và nếu in thì in ra giấy trắng thông thường

③ Không ghi tênngày tháng

  Lưu ý luôn ghi tên + ngày tháng vào góc phải tờ đầu tiên. Ngày là ngày nộp hồ sơ

⓸ Viết tắt tên công ty dạng (株)

  Hãy ghi đầy đủ nếu ko muốn bị nhà tuyển dụng đánh giá về business manner của bạn

⑤ Không ghi  hình thức tuyển dụng

   Hãy ghi rõ công việc đó là 正社員 hay chỉ là アルバイト

⑥ Dùng những câu văn dài  thê

 Nên viết dạng gạch đầu dòng, câu văn ngắn gọn

Trường hợp 2

img_p02.gif

 Chú thích: Các lỗi sai thường gặp 2 (Nguồn ảnh: doda.jp)

① Nhầm ngày tháng

 Những lỗi ngày tháng này khiến cho hồ sơ mất tính chính xác, và còn bị đánh giá về tính cẩn thận

② Dùng font chữ không thống nhất

  Lỗi này dễ tạo cho người đọc cảm giác khó chịu, hoặc hiểu nhầm là do mình copy từ nhiều nguồn khác nhau nên font chữ bị lẫn lộn

③ Dùng lịch Tây  lịch Nhật lẫn lộn

 Dùng lịch Tây và lịch Nhật lẫn lộn trong cùng 1 văn bản sẽ khiến người đọc bị khó hiểu.

⓸ Các lỗi type miss, lỗi sai chữ Hán

  Sau khi hoàn thành hồ sơ, hãy rà soát lại kỹ hoặc in ra để check lại cẩn thận.

⑤ Không ghi 以上 ở phần cuối cùng

 

Trường hợp 3

img_p03.gif

 Chú thích: Các lỗi sai thường gặp 1 (Nguồn ảnh: doda.jp)

① Nội dung quá chung chung

 Cần viết cụ thể về thành quả đạt được ( nếu có dẫn chứng về con số thì càng tốt), nội dung công việc cụ thể mà mình từng phụ trách,  tránh kiểu viết chung chung như  マーケティングの仕事を担当しました v.v…

② Lạm dụng thuật ngữ chuyên môn của công ty ngành ,..

   Việc lạm dụng những thuật ngữ này có thể khiến người đọc ko hiểu.

③ Ghi cả những chứng chỉ ko liên quan vào hồ 

   Việc ghi cả những chứng chỉ ko liên quan vào  hồ sơ ( ví dụ bằng lái xe máy,..) sẽ khiến hồ sơ bị loãng.

⓸ Ghi cả sở thích  nhân vào hồ 

  Đây là phần nội dung ghi trong 履歴書、còn trong 職務経歴書 chỉ ghi những gì liên quan trực tiếp tới công việc.

3. Các bước cơ bản khi viết 職務経歴書

① Ghi  thông tin về các công ty từng làm

   Các nội dung cần ghi bao gồm  会社名、事業内容、従業員数、資本金

     (tênlĩnh vực hoạt độngsố nhân viêntiền vốn, website nếu ,…)

Ghi cụ thể nội dung công việc từng phụ trách

     Trong phần này, ngoài liệt kê cụ thể những công việc đã từng phụ trách, nếu có thông tin cụ thể hơn về thời gian, quy mô dự án, doanh thu,…thì sẽ thuyết phục hơn

③ Ghi  kết quả công việc  tóm tắt quá trình dẫn đến KQ đó

    Sau khi ghi rõ KQ công việc, hãy tóm tắt quá trình dẫn đến KQ đó dưới dạng :

    「あなたが」「何を」「どれだけ」  Bạn đã làm làm như thế nào)

⓸ Ghi  các kinh nghiệmkỹ năng  được trong quá trình làm việc

    Tuy vậy, khi trình bày cần tránh những cụm từ chung chung kiểu コミュニケーション力を身につた v.v.. Thay vào đó, hãy ghi rõ xem khả năng コミュニケーション ấy cụ thể là gì, và bạn đã rèn luyện được nó qua công việc như thế nào,…  

 

行政書士の意義

カテゴリ: コラム 公開日:2019年03月11日(月)

こんにちは。

 

外国人人材紹介サービス

株式会社TOHOWORKの和田です。

 

今日も朝から介護職での面接に行ってきました。

施設長の方が面接を担当してくださいましたが

非常に好印象を持っていただけたようで今週中には内定通知書が出るとのことでした。

日本人であればこれで入社まで待てばいいのですが、外国人の場合は就労ビザの取得があります。

当初は4月入社を望んでいらしたそうですが、早くても恐らく5月ぐらいになるのではないかと思います。

外国人の雇用をご検討の際は早めのアクションを心掛けるようにしてくださいませ。

 

 

 

さて、今日のテーマに行きましょう。

今日のテーマは「行政書士」についてです。

 

thX7PKPU9G

 

 

行政書士と一言で言ってもその業務は多岐にわたります。

我々、外国人に特化した有料職業紹介会社がお付き合いする行政書士は入管取次資格のある行政書士の先生です。

平たく言えばビザのエキスパートです。

行政書士に依頼をすれば費用はかさみますが、欲しい人材の確保の確立がグッと上がるのも間違いありません。

今日も今までの事例をもとにご説明をしていきたいと思います。

 

 

 

CASE STUDY⑨ 行政書士に頼んだら‥‥‥‥

 

  株式会社甲医療機器販売(以下、「甲医療」とする)の社長A氏と医療専門学校を卒業した王氏(26歳/女性/中国籍)が、行政書士法人乙法務事務所(以下、「乙法務」とする)を訪れた。

 そして、乙法務の代表社員であるB行政書士が面談したところ、現在王氏は出国準備を目的とする特定活動(在留期間31日)の在留資格で在留しており、1度、自分自身で在留資格変更許可申請(甲医療で採用)をして不許可になっていることがわかった。

 同不許可の通知書には、「本邦において安定・継続的に『技術・人文知識・国際業務』の在留資格に該当する活動を行うものとは認められません。」「『技術・人文知識・国際業務』の在留資格に係る出入国管理及び難民認定法第7条第1項第2号の基準を定める省令の基準に適合するとは認められません。」「従事しようとする業務について、当該知識に係る科目を専攻して本邦の専修学校の専門課程を修了したものとは認められません。」と記載されていた。

 そもそも、甲医療は王氏を「営業担当」で採用していたが、入管当局からすれば甲医療の製品である医療機器の販売が本当に「学術(医療)上の素養を背景とする一定水準以上の業務」に該当するか判断できなかったと予想された。

 そこで、B行政書士はA氏および王氏からその担当業務および王氏が専修学校で専攻した科目について詳しくヒアリングをし、再度の在留資格変更許可申請の準備をはじめた。

 その後、B行政書士が在留資格変更許可申請を取り次いで、無事に王氏は「技術・人文知識・国際業務」の在留資格を取得することができた。

 

 akhf

 

 

解説

 

今回のケースは、王氏の専門性(専修学校で学んだ科目)が甲医療で担当する医療機器販売業務でどのように活かされるのかについての立証が不十分だったことから1度は不許可となりました。

おそらく甲医療の社長であるA氏は「医療専門学校卒業者が医療機器の営業担当になるのだから問題ないだろう」と考えていたのでしょう。

しかしながら、王氏の1回目の在留資格変更許可申請は不許可となり、出国準備を目的とする「特定活動」の在留資格(以下、「出準」とする)を付与されるに至りました。

この点、「出準」を付与された場合、その在留資格の目的はあくまで「出国準備」であるため、必ず日本から出国しなければならないようにも思えます。

しかしながら、就労審査部門においては、「出準」からの再度の申請が認められやすくなっています(この理由は就労審査の場合は、法的にも経営状態としてもテクニカルなものになるため、審査が難しい傾向になるからだと思われます)。

もっとも、在留資格で許可された以外の活動を行ったり、長期間にわたって許可された在留活動をしていなかった等により不許可の場合には「在留不良」と認定され、再度の申請は非常に難しいです。

この場合は、一度単純出国して在留資格認定証明書交付申請からやり直さなければなりませんが、従前の在留履歴が消えるため、同時に「在留不良」も払しょくされることになります。

しかしながら、この在留資格認定証明書交付申請においても、しっかりと「在留不良」の状況やそれに至った理由、さらには再発しないという印象を入管当局に立証しなければならず、それが不十分である場合には、在留資格認定証明書が交付されることは難しいでしょう。

 

th73VPEDNC

 

 

 

CÁC BƯỚC KHI PHỎNG VẤN XIN VIÊC TẠI NHẬT

カテゴリ: Tiếng Việt (ベトナム語) 公開日:2018年11月29日(木)

Các manner khi đi phỏng vấn xin việc tại Nhật

 

Cover-maner-interview-1-702x336.jpg

  Với mong muốn giúp các bạn có được sự chuẩn bị đầy đủ và để lại ấn tượng tốt cho nhà tuyển dụng trong quá trình đi phỏng vấn sau này,  Bên mình mong muốn qua bài viết này giới thiệu cho các bạn đầy đủ về các manner – cách ứng xử, tác phong khi đi phỏng vấn xin việc tại Nhật.

   Mọi người cùng đọc để nắm được những quy tắc cần thiết này để không bị trừ điểm do những lỗi không đáng có nhé. Nên nhớ, không phải cứ tiếng Nhật giỏi là sẽ phỏng vấn thành công, mà thành công khi phỏng vấn 80% nằm ở sự chuẩn bị trước đó của các bạn đấy. Hy vọng bài viết này sẽ giúp các bạn tự tin hơn trong những buổi phỏng vấn sắp tới.

Nếu mới bắt đầu xin việc, hãy đọc ngay: 5 bước để bắt đầu xin việc ở Nhật

1. Các lưu ý khi đi vào phòng (7 bước):

★ Bước 1: Gõ cửa  maner-in-1.jpg
Gõ cửa phòng 3 lần (knock knock knock), lưu ý không gõ cửa quá mạnh dễ tạo ấn tượng không tốt. Tuyệt đối không gõ 2 lần (knock knock) vì ở Nhật chỉ gõ 2 lần khi gõ cửa toilet. Sau khi gõ cửa mà trong phòng không có tín hiệu gì, thì lại gõ lại 3 lần (knock knock knock) nữa. Sau đó đợi thêm 5 giây trước khi thử mở cửa phòng.

maner-in-2.jpg★ Bước 2: Đi vào phòng
Mở cửa phòng và bước vào sau khi nghe tiếng “どうぞ”. Khi mở cửa phòng, chào dõng dạc “失礼致します”, và lưu ý nhìn vào mắt người phỏng vấn (eye contact).


maner-in-3.png★ Bước 3: Đóng cửa
Khi đóng cửa, lưu ý đứng nghiêng một góc nhỏ tránh để không quay lưng lại hoàn toàn phía người phỏng vấn. Tuyệt đối không vừa quay mặt về phía người phỏng vấn vừa với tay ra sau lưng đóng cửa. Đóng cửa nhẹ nhàng, tránh không tạo ra tiếng động lớn.


maner-in-4.png★ Bước 4: Đứng trước cửa phỏng và chào
Sau khi đóng cửa, quay mặt lại về phía người phỏng vấn. Chào to và dõng dạc 「本日はよろしくお願い致します」.

maner-in-5.png★ Bước 5: Cúi chào (一礼) trước cửa phòng
Sau khi chào, quay về phía người phỏng vấn và cúi chào một góc 45 độ, giữ nguyên tư thế khoảng 1 giây. Trong trường hợp có hai đến ba người phỏng vấn, thì chỉ cần hướng về phía người đứng giữa để cúi chào là được.


maner-in-6.png★ Bước 6:  Đứng cạnh ghế rồi xưng tên
Đi chậm rãi, từ tốn về phía ghế ngồi và dừng lại ngay cạnh ghế (xem hình). Sau khi người phỏng vấn nói「大学名とお名前をどうぞ」thì giới thiệu ngắn gọn tên và trường mình đang theo học. Sau khi xưng tên, cúi chào 45 độ một lần nữa và giữ nguyên tư thế cúi chào trong 1 giây.


maner-in-7.png★ Bước 7: Ngồi xuống
Chỉ ngồi xuống sau khi người phỏng vấn mời ngồi 「どうぞお座りください」. Sau khi được mời ngồi, nói 「失礼します」, cúi chào một góc 15 độ rồi nhẹ nhàng ngồi xuống. Ngồi thẳng lưng, mắt nhìn về phía người phỏng vấn, để cặp xuống bên cạnh ghế ngồi. Nam giới nắm nhẹ tay rồi đặt nhẹ lên hai đầu gối. Nữ giới xếp hai tay chồng lên nhau rồi đặt nhẹ lên đùi.

 

2. Các lưu ý khi ra khỏi phòng:

maner-out-1.pngBước 1: Chờ tín hiệu kết thúc phỏng vấn từ người phỏng vấn
Chuẩn bị sẵn sàng tư thế để chuẩn bị ra khỏi phòng khi nghe người phỏng vấn nói「本日の面接は以上です。お疲れ様でした」. Lưu ý tuyệt đối không đứng lên cho đến khi nghe được tín hiệu kết thúc từ người phỏng vấn.


maner-out-2.png★ 
Bước 2: Ngồi nguyên trên ghế và cúi chào
Sau khi nghe được tín hiệu đã kết thúc buổi phỏng vấn từ người phỏng vấn, nói to câu cảm ơn「本日はお忙しい中、貴重(きちょう)なお時間を割(さ)いていただき、誠にありがとうございました」. Sau khi nói lời cảm ơn, ngồi nguyên trên ghế và cúi chào.


maner-out-3.png★ Bước 3: Đứng dậy, đi sang cạnh ghế và cúi chào
Đứng dậy nhanh, sau đó di chuyển sang cạnh ghế, chào to「失礼します」, sau đó cúi chào sâu. Lưu ý không để thời điểm  chào 「失礼します」(挨拶) và  cúi chào (お礼) diễn ra đồng thời. chào xong thì cúi chào.

maner-out-4.png★ Bước 4: Chào trước cửa phòng
Di chuyển điềm tĩnh ra cửa. Trước khi ra cửa, quay người lại về phía người phỏng vấn chào dõng dạc 「失礼します」 rồi cúi chào. Nhẹ nhàng quay lại và mở cửa. Lưu ý tư thế đứng để không quay lưng hoàn toàn lại về phía người phỏng vấn.


maner-out-5.png★ Bước 5: Eye contact trước khi đóng cửa
Khi mở cửa và bước ra khỏi phòng, quay lại vừa hướng mắt nhìn về phía người phỏng vấn. Khi đi ra khỏi phòng, lưu ý tư thế để không quay lưng hoàn toàn lại về phía người phỏng vấn. Nhẹ nhàng đóng cửa không để gây ra tiếng động lớn.

 

 

3. Các lưu ý về quần áo, đầu tóc:

maner-fuku1.png★ Lưu ý với quần áo, đầu tóc của nam

maner-fuku2.png

★ Lưu ý với quần áo, đầu tóc của nữ

4. Kính ngữ thường dùng trong phỏng vấn

★  Khiêm nhường ngữ thường dùng

会う→お会いする

 X 御社のOBに会いました
 ◯ 御社のOBにお会いしました

◆ 見る→拝見する

 X 資料は既に見ました
 ◯ 資料は既に拝見しました

◆ 言う→申し上げる

 X 先ほど言ったように
 ◯ 先ほど申し上げましたように

◆ 知る→存じ上げる

 X  知りません
 ◯ 存じ上げません

◆ もらう→いただく

 X 貴重な面接の時間をもらい、ありがとうございます。
 ◯ 貴重な面接の時間をいただき、ありがとうございます。

◆ がんばる→努力させていただく

 X 貴社にふさわしい人材となるべく頑張ります。
 ◯ 貴社にふさわしい人材となるべく努力させていただきます

◆ 行く→参る

 X ○時に貴社のビル1Fへ行きます
 ◯ ○時に貴社のビル1Fへ参ります

◆ わかる→かしこまる

 X はい、わかりました
 ◯ はい、かしこまりました

◆ 聞く→伺う

 X 御社のキャリアパスについて聞いてもよろしいでしょうか?
 ◯ 御社のキャリアパスについて伺ってもよろしいでしょうか?

 

★ Tôn kính ngữ thường dùng

◆ 教える→ご指導

 X 〜について教えて下さい
 ◯ 〜についてご指導下さい

◆ 後で→後ほど

 X 後で連絡いたします
 ◯ 後ほど連絡いたします

◆ 言う→おっしゃる

 X A様の言うように、
 ◯ A様がおっしゃるように

◆ ちょっと→少し

 X ちょっとお待ちください
 ◯ 少しお待ちください

◆ する→なさる

 X A様は学生時代にどんなことをしていたのですか?
 ◯ A様は学生時代にどんなことをなさっていたのですか?

◆ すみませんが→恐れ入りますが

 X お電話が遠いようです。すみませんが、もう一度お願いします。
 ◯ お電話が遠いようです。恐れ入りますが、もう一度お願いします。

◆ 見る→ご覧になる

 X エントリーシートを見てください
 ◯ エントリーシートをご覧ください

◆ 大丈夫です→問題はございません

 X はい、面接は○○日の○時からで、大丈夫です
 ◯ はい、面接は◯◯日の◯時からで、問題はございません

★ Các lỗi thường gặp về sử dụng kính ngữ khi phỏng vấn:

 ◆ おっしゃられる→おっしゃる

  X 部長のおっしゃられることに大変共感いたしました
  ◯ 部長のおっしゃることに大変共感いたしました

 Do bản thân おっしゃる đã là kính ngữ, nên nếu tiếp tục thêm られる vào như thông thường sẽ thành lỗi kính ngữ hai lần (二重敬語).

 ◆ お伺いする→伺う

  X では、◯時に貴社ビル1Fにお伺いします
  ◯ では、◯時に貴社ビル1Fに伺います

 Do bản thân 伺う đã là khiêm tốn ngữ, nên nếu tiếp tục chuyển thành お伺いします nữa sẽ thành lỗi khiêm tốn hai lần (二重敬語)

 

5. Các lỗi thường gặp khi phỏng vấn

Dưới đây là những lỗi hay gặp nhất khi đi phỏng vấn xin việc ởi Nhật. Chỉ cần mắc một trong những lỗi sau đây thì cơ hội đỗ phỏng vấn của bạn đã giảm đi hơn một nửa rồi đấy.

 Không chào hỏi

 Nói bé, không rõ ràng

 Dáng ngồi không nghiêm túc (ngả, dựa vào ghế, khom lưng, cúi gằm mặt,..)

 Không nhìn vào mắt đối phương (eye contact) khi nói

 Nói dài dòng, không đi vào trọng tâm

 Đi muộn mà không liên lạc trước giờ phỏng vấn

 Liên tục vuốt tay, bẻ ngón tay,..thể hiện sự không bình tĩnh

在留資格の申請が不許可・不交付になっても諦めない

カテゴリ: コラム 公開日:2019年03月08日(金)

こんにちは。

 

外国人人材紹介サービス

株式会社TOHOWORKの和田です。

 

最近、外国人や同業である有料職業紹介会社の方と特定技能についてお話をしていたのですが、ほとんどご存知でない方がかなりの人数いることに驚きました。

特定技能1号の対象国である国籍の外国人留学生でも特定技能1号について聞いたことがない人も。

専門学校などの先生は学生に話してあげていないのでしょうね。

今後の弊社の仕事としてはこの特定技能1号の存在を広めていくことだと感じています。

 

 

さて、今日のテーマに移りましょう。

今日のテーマは「不許可理由」についてです。

 

qwerttyuu

 

外国人を雇用する上でほとんどが通る在留資格の申請、申請したものが全て許可だといいのですが、実際には不交付の通知が届くことも少なくありません。

今日は不許可通知が届いた時の事案を元に見ていきたいと思います。

 

 

 

CASE STUDY⑧ 不許可のワケをよく理解する

 

  都内で低価格の本格中華料理のFC展開をしている甲社は、FCの本部機能を強化するために李氏(23歳/男性/中国籍)を採用した。

 そして、李氏がビジネス系の専門学校(2年制)を出ていることから、甲社は李氏を「会計」業務担当者とした。

 その後、李氏は入管当局へ「留学」から「技術・人文知識・国際業務」への在留資格変更許可申請をしたが、同申請後2か月してから李氏に対して入管当局から出頭通知書が送られてきた。

 そして、李氏が会社の人事担当者とともに入管当局へ出頭すると同申請が不許可である旨を告げられ、さらに同不許可理由として「既に甲社には会計担当者が1人いる。したがって、李氏が必要ないのではないか」ということだった。

 もっとも、入管当局が指摘した会計担当者は李氏と入れ替わりぐらいで退職していたことから、その旨を記載した採用理由書と立証資料をつけて李氏は再び在留資格変更許可申請をした。

 ところが、再度不許可となってしまった。

 不許可理由は、李氏が専門学校で学んだ専門知識と甲社での担当業務との関連性が薄いということだった。

 しかしながら、この理由であれば前回申請時においてもわかっていたことであることから、李氏と人事担当者は戸惑いを覚えた。

 

 

thQ67LLMA5

 

 

 

 

解説

 

今回のケースは、1度目の不許可説明時に十分に不許可理由を聞いていないことが原因です。

この点、入管当局には不許可等説明義務があるのだから、不許可等理由の全てを申請人に伝えるべきである、と考える人もいるかもしれません。

しかしながら、本当に入管当局には不許可説明義務があるのでしょうか。

結論からいえば、入管当局に不許可説明義務を一義的に根拠づける法律はありません。

入管当局での審査官の口頭説明は「法的義務」ではなく、1つの「行政サービス」として履行しているのだと思います。

だからこそ、その「行政サービス」の機会を十分に活かすためにも

(1)不許可等理由は全て聞く

(2)解決策(再申請方法)について確認する

(3)理不尽な不許可理由にも真摯に対応する

(4)出入国管理行政は「国防」の一環であると認識する

を踏まえた積極的な態度が必要となります。

 

 

thATG38ZEI 

 

 

12 CÔNG TY TƯ VẤN DU HỌC VIỆT NAM BỊ CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN CÁO BUỘC LÀM GIẢ VISA CHO DHS VIỆT NAM

カテゴリ: Tiếng Việt (ベトナム語) 公開日:2018年11月28日(水)

12 công ty tư vấn du học Việt Nam bị chính phủ Nhật Bản phạt vì cáo buộc làm giả visa cho du học sinh Việt Nam

 

Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã đưa ra một hình phạt cứng rắn đối với hơn 12 công ty tư vấn du học Việt Nam với một lệnh cấm 6 tháng tính từ tháng 11/2018 đến tháng 3/2019 đối với việc xin visa cho các sinh viên Việt Nam, sau những nghi ngờ về việc họ đã giả mạo các giấy tờ chứng nhận thành thạo tiếng Nhật cho những công dân Việt Nam để có thể được nhận visa trót lọt. Như vậy, từ bây giờ cho đến tháng 3 năm sau, tất cả mọi hồ sơ xin visa của 12 công ty bị cho vào danh sách đen kể trên sẽ bị Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam từ chối.

coe-3.png

Động thái này của Bộ đưa ra sau khi các quan chức phát hiện ra con số 10% của khoảng hơn 6000 công dân Việt Nam đã được phỏng vấn để nộp đơn xin thị thực du học sinh từ tháng 3/2017 đến tháng 9/2018 đã thất bại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết để xin visa,cụ thể chính là đạt được khả năng thông thạo tiếng Nhật cơ bản.

japan-visa-2017-2.jpg

Trình độ tiếng Nhật được  thấp nhất là bằng N5 là một trong những tiêu chí cơ bản để lầm hồ sơ visa của Nhật.

Phát hiện gây sốc này có thể sẽ tác động lớn đến kết quả thảo luận tại Nghị viện về kế hoạch chấp nhận những người lao động nước ngoài làm việc tại Nhật Bản, dự thảo luật mới có thể sẽ kèm luôn những bài kiểm tra khả năng tiếng Nhật cho những công dân nước ngoài mới đến.

Theo tổ chức dịch vụ sinh viên Nhật Bản, có đến 26.000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường tiếng Nhật vào năm 2017, con số chỉ đứng thứ 2 sau các du học sinh Trung Quốc. Trong khi đó, công dân Việt Nam lại chiếm số lượng lớn nhất trong số những nhóm tội phạm nước ngoài bị bắt tại Nhật vào năm 2017, chiếm đến khoảng 30%, theo số liệu của cơ quan Cảnh sát Quốc gia. Trong số 30% tội phạm người Việt này, có đến 40% đăng kí sinh sống tại Nhật với thị thực là học sinh, sinh viên.

nhat-ban-lat-chieu-an-cap-hang-cua-nhom-du-hoc-sinh-viet_61738588.jpg

Những vụvi phạm pháp luật mà đối tượng gây ra là du học sinh Việt Nam gây ra ngày càng trở nên phổ biến tại Nhật

Tỉ lệ cao những danh sách tội phạm người Việt với visa du học sinh này đã khiến Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam nghi ngờ rằng quá trình xử lý thị thực của các du học sinh một cách cẩu thả là nguyên nhân chính gây ra thực trạng đáng lo ngại này, cuối cùng đã đưa ra giải pháp bằng những cuộc phỏng vấn mặt đối mặt với những ứng viên nộp visa.

Đại sứ quán đã nhận ra rằng có ít nhất 1 trên 10 ứng viên thậm chí còn không hiểu tiếng Nhật để có thể nộp đơn xin thị thực đi du học. Tỷ lệ này tăng lên thành 30% sau khi xét duyệt lại những ứng viên có hồ sơ xin visa đã được xử lý bởi 12 công ty cung cấp dịch vụ xin thị thực mà đã phải nhận hình phạt từ chính phủ kể trên.

xin-visa-du-hoc-o-dai-su-quan-nhat-ban-tai-ha-noi.jpg

Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã báo cáo lại kết quả thống kê của mình cho Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, cơ quan đã cấp giấy phép cho 12 công ty xử lý giấy tờ visa cho các du học sinh người Việt.

Các công ty hỗ trợ dịch vụ xin visa và đưa người nước ngoài vào Nhật Bản học tập và làm việc đang phát triển mạnh ở Việt Nam trong những năm gần đây, khi mà họ đánh vào tâm lý của giới trẻ với những lời chào mời hấp dẫn như “khả năng kiếm tiền tại Nhật Bản”, và thu tới hơn…. 1 triệu yen (hơn 200 triệu đồng) chỉ với một hồ sơ xin thị thực thành công.

du-hoc-Nhat-Ban-2016-5.png

12 công ty hỗ trợ du học Nhật Bản đã làm giả các giấy tờ về khả năng ngôn ngữ cho những người nộp hồ sơ để được thông qua visa và nhận lại số tiền lớn.

Những người nộp đơn xin thị thực du học tại Nhật Bản phải nộp đầy đủ hồ sơ gồm các giấy chứng nhận đủ tư cách cư trú do Bộ Tư pháp Nhật Bản cấp. Và để có được chứng chỉ này, người nộp hồ sơ cần phải chứng minh được rằng họ có trình độ ngôn ngữ tối thiểu ở mức N5 hoặc là cao hơn, được xác nhận bởi bài thi kiểm tra sự thành thạo tiếng Nhật.

nguồn: suu tâm

 

入管からの「資料提出通知」について

カテゴリ: コラム 公開日:2019年03月07日(木)

こんにちは。

 

外国人人材紹介サービス

株式会社TOHOWORKの和田です。

 

今週は月曜日から面接が立て続けにありました。

業種はホテルのフロント業務で10名の採用をご検討いただいている会社様でした。

最近ではますますお問い合わせも増えてきており、外国人雇用をご検討いただける企業様が増えてきたことをとても嬉しく感じています。

 

 

さて、それでは今日のテーマに移りましょう。

今日は入管からの「資料提出通知」についてご紹介していきたいと思います。

 

 

thHHU6W110

 

「資料提出通知書」は在留資格の申請後に入管当局から送られてくることがある通知書のことです。

通知書の内容には、雇用者の経営状況について詳細な情報の提出を求めるものもあります。

今日はその「資料提出通知」についてのことをこれまでにあった事例をもとにご説明していきたいと思います。

 

 

 

CASE STUDY⑦ 「資料提出通知書」は要注意!

 

  建設業を営む株式会社甲組(以下、「甲組」とする)は、急成長しており非常に勢いのある会社である。

 甲組の社長であるAは、一代で会社を成功させたという自負もありワンマン経営者として有名だった。

 また、甲組の下にいる職人たちは永住者や定住者の在留資格を有する中国人が多いのも特徴だった。

 したがって、日本語が十分に理解できないことを原因とするトラブルが多く発生しており、それがAにとって悩みの種だった。

 そこで、Aは日本の大学(経済学部)を卒業する予定の蔡氏(25歳/男性/中国籍)を「通訳・翻訳」担当として採用することにした。

 その後、蔡氏は「留学」から「技術・人文知識・国際業務」への在留資格変更許可申請をしたが、申請日から3週間後に入管当局から「資料提出通知書」が蔡氏に対して送られてきた。その内容は、以下のとおりであった。

 

----------------------------------------ー

 

2018年〇月〇日

資料提出通知書

蔡 〇 様

 あなたの申請(東労C××××× 申請日2018.〇.〇)に関し、審査資料で下記の書類が必要ですので、〇月〇日(当日必着・延長不可)までに本状とともにご送付又はご持参ください。なお、郵送の場合は、封筒の表に申請日と申請番号を記載してください。

〇あなたの「就業場所」について

 次の資料により、申請人が実際の業務に従事する場所と職場環境を明らかにしてください。

 (1)賃貸借契約書の写し

 (2)見取り図

  ※出入り口から事務室まで。備品等の配置状況も明記して下さい。

 (3)座席表

 (4)写真(外観・郵便受・看板・事務室内)

  ※建物全体の様子が把握でき、かつ、申請に係る業務に従事する職場環境が整備されて  

   いることを明らかにするように撮影してください。

〇申請人が担当する「翻訳・通訳」業務の業務内容(建設現場に行く場合は、その頻度についても)及び業務量について詳細に説明した文書(会社作成・要社判)をご提出ください。

提出先(送付先)

〒108-8255

東京都港区港南5-5-30

東京入国管理局 就労審査部門

 注意:請求された資料を上記期日までに提出されないときは、特別な事情があると認めた

 場合を除き、現に提出された資料によって許否を決定します。

 なお、申請に対する処分がなされないまま、在留期間から2か月を経過した場合には、本

 邦に滞在することができなくなりますので資料は速やかに提出してください。

※当該申請の結果については、別途こちらから通知が送付されるまでお待ちください。

 

ーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーーー

 

 

 蔡氏は「資料提出通知書」をAに渡して対応してもらいたい旨を伝えた。

 すると、Aは「資料提出通知書」の内容に目を通すや否や、烈火のごとく怒り出し「なんで、こんな細かいことまで聞かれないといけねぇんだ!雇うかどうかはオレとおまえとの問題だろ!入管にうるさく言われる筋合いはない!」と言い放ち「資料提出通知書」を破いてしまった。

 結局、追加資料を提出することができなかった蔡氏の在留資格変更許可申請は不許可となった。

 

 

 

avifuuh

 

 

解説

 

今回のケースのAが「資料提出通知書」を破いて、入管当局からの求めに応じなかったことは、外国人材の雇用者としては絶対にやってはいけないことです。

外国人材の雇用者は、入管当局からの追加資料の求めに対しては真摯な対応をしなければなりません。

外国人および雇用者にとって「在留資格」がその雇用の前提であり、その前提のためには全力で対応するつもりがなければ外国人材を雇用すべきではないでしょう。

この点、Aは自らの会社と自分の実績に自信があったからこそ、今回のケースのような対応をしてしまったのでしょう。

本来であれば、このような自信を持つことは素晴らしいことであり、決して非難されるべきものではありません。

ただ、Aは自分が外国人材の雇用者であり、そのことを忘れていたのです。

結局、このAの不適切な対応によって蔡氏は在留資格変更許可申請は不許可となってしまい、蔡氏は甲組に就職することはできませんでした。

この結果を知ったAが、入管当局に対する態度を改めなければ、蔡氏は永遠に甲組に就職することはできないでしょう。

 

 

th73VPEDNC

3 NHÓM DU HỌC SINH THƯỜNG GẶP KHÓ KHĂN KHI XIN VIỆC Ở NHẬT VÀ CÁCH ĐỂ NÂNG CAO CƠ HỘI CỦA BẢN THÂN

カテゴリ: Tiếng Việt (ベトナム語) 公開日:2018年11月27日(火)
3 NHÓM DU HỌC SINH THƯỜNG GẶP KHÓ KHĂN KHI XIN VIỆC Ở NHẬT VÀ CÁCH ĐỂ NÂNG CAO CƠ HỘI CỦA BẢN THÂN

                  imasia 13203955 S

Trong hơn 3 năm làm công việc hỗ trợ các bạn sinh viên xin việc ở NHẬT, mình thấy có 3 nhóm sau đây khá khó khăn khi đi xin việc.

  1. 1.Các bạn chưa tốt nghiệp ĐH, Cao Đẳng ở VN, sang đây học các trường senmon về business, phiên dịch,...nhưng tiếng Nhật chỉ ở mức N3, nghe nói kém.
    2. Các bạn chưa tốt nghiệp ĐH, CĐ ở VN, sang đây chọn học khoa IT của các trường senmon nhưng thực tế gần như chỉ học mấy cái cơ bản như Word, Excel, tạo homepage bằng HTML,..chứ còn các ngôn ngữ lập trình gần như ko biết.
    3. Các bạn ở VN tốt nghiệp DH -CD một số ngành khá đặc thù như: mầm non, y tế,...và sang đây chỉ học trường tiếng rồi định đi xin việc luôn.

NHÓM 1:

Nhóm 1 thường các bạn gặp khó khăn do tỉ lệ cạnh tranh các công việc phù hợp với chuyên ngành của các bạn thường rất cao, vì hiện nay ngoài các bạn học ĐH- Senmon ở Nhật ra thì rất nhiều bạn học ĐH ở VN cũng sang du học trường tiếng rồi đi kiếm việc luôn, các bạn khối xã hội lại vốn có năng khiếu về ngoại ngữ nên lượng các bạn học khối kinh tế- xã hội mà có N2 hiện nay ko phải hiếm.

Thêm vào đó, khác với các công việc kĩ thuật thường cần chuyên môn (như cơ khí, xây dựng, IT,..) nên tiếng ko đòi hỏi nhiều, các công việc liên quan tới khối kinh tế- xã hội thường yêu cầu khả năng ngoại ngữ tốt, nên nếu chỉ có tiếng Nhật N3 thì các bạn sẽ trở nên…chìm nghỉm giữa các ứng viên khác đã tốt nghiệp Đại học và tiếng Nhật N2 trở lên.

Vì thế, các bạn học các trường senmon về business, phiên dịch,..nên lưu ý dành thời gian để trau dồi tiếng Nhật thật tốt, đặc biệt là khả năng nghe, nói. Ngoài ra, các bạn cũng có thể tăng cơ hội tìm việc cho mình bằng cách chọn các công việc ở các tỉnh xa Tokyo một chút, vì tâm lý phần đông các bạn đều muốn ở lại Tokyo hay các thành phố lớn, nên sẽ ít cạnh tranh hơn.

NHÓM 2:

Các bạn nhóm 2 ngược lại dù nhiều bạn có tiếng Nhật khá tốt nhưng vẫn rất lận đận trong khâu xin việc do đặc thù các công việc IT ở Nhật thường phần đông lại ko đòi hỏi tiếng quá cao (chỉ N3 trở lên là đủ, N2 thì sẽ lợi thế hơn thôi) nhưng lại yêu cầu chuyên môn nhất định.

Tuy nhiên, rất nhiều trường senmon về IT ở Nhật tuy trên danh nghĩa là đào tạo IT nhưng thực tế chỉ học các phần rất cơ bản như Office (Word, Excel, Powerpoint,… mà mấy caí này thì ko thể gọi là IT skill được :S), đỡ hơn thì có trường dạy tạo website bằng HTML, CSS,…chứ còn các Skill cần thiết để lập trình được như C, Java, PHP, SQL,…thì nhiều bạn thậm chí còn chưa từng nghe qua.

Mà các bạn biết đấy, hiện gần như chẳng có công ty nào tuyển bạn vào làm IT chỉ để bạn làm cho họ website,…mà thường là phải lập trình được, …Vì thế, các bạn học senmon IT ở Nhật nếu ko chịu khó tự mình học thêm mà chỉ dựa vào các kiến thức được học ở trường thì khi đi xin việc sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ các bạn đã tốt nghiệp các trường ĐH mạnh về IT ở VN như Bách Khoa, Học viện kỹ thuật quân sự, học viện Bưu Chính Viễn Thông,…và lại có tiếng Nhật tầm N3 trở lên.

NHÓM 3:

Đây là các ngành mà yêu cầu của Nhật gần như khác hẳn với VN, người Nhật nếu muốn làm trong ngành này cũng cần phải có các chứng chỉ riêng,…Vì thế, nếu chỉ dựa vào chuyên môn học ở VN rồi sang học trường tiếng và dự tính xin việc luôn, thì các bạn sẽ rất khó tìm được công việc phù hợp.

Lời khuyên cho các bạn này là nên tìm một trường senmon phù hợp để học lên, vừa nâng cao khả năng tiếng Nhật, vừa có thêm 1 tấm bằng để sau này ra trường xin việc dễ hơn.

================================

 

在留資格の提出時期

カテゴリ: コラム 公開日:2019年03月01日(金)

こんにちは。

 

外国人人材紹介サービス

株式会社TOHOWORKの和田です。

 

昨日は同業者の社長様と食事をご一緒していただき

色々とためになるお話をお伺いすることができました。

少々調子に乗って飲みすぎたため、2件目の飲み屋で携帯電話を忘れてくるという失態を犯してしまいました。

お陰で今日は全然仕事になりません。

一日中携帯電話を持っていないなんて中学生以来のことかもしれませんwww

仕事でも使う携帯電話、ないと本当に困りますね。

 

さて、では今日のテーマに移りましょう。

今日は「在留資格の提出時期」について事例を交えながらご紹介していきます。

 

awsdfew

 

 

 

 

CASE STUDY⑥ 「現在審査中です」

 

  カテゴリー2である甲洋行株式会社は、日米間の貿易を主たる業務としている。

 急ぎの商談があったため、マクドナルド氏(26歳/男性/米国籍)を採用し、すぐに米国へ出張させる予定だった。

 しかしながら、マクドナルド氏が入管当局に対して行った在留資格変更許可申請(「留学」から「人文知識・国際業務」)に対する結果は、1週間経っても出なかった。また、甲洋行はカテゴリー2であることから、マクドナルド氏の申請について提出していたのは、ほぼ申請書のみだった(主張に関する上申書等は添付なし)。

 焦った甲洋行、入管当局にマクドナルド氏の申請についての進捗状況を確認したが、入管当局からは「現在審査中」であるとしか回答がなかった。

 そもそも、甲洋行はこれまでの自社で雇用した外国人の申請経験から1週間程度で結果が出ると考えて予定を組んで、マクドナルド氏の航空券も手配してしまっていた。

 ところが、さらに2週間経ってもマクドナルド氏の申請結果が出なかった。

 そして、この時点でも入管当局からの回答は「現在審査中」だけだった。

 結局、マクドナルド氏の在留資格変更が許可されたのは、丁度申請日から1か月後だった。そして、この時点では米国における商談は流れてしまっていた。

 

 

avbugf

 

 

 

解説

 

今回のケースにおける甲洋行の失敗は、①これまでの自社の「実績」を前提にしてマクドナルド氏の出張予定を組んでしまったことと、②その出張予定を入管当局に上申しなかったことです。

①入管当局への申請「実績」は、絶対視してはいけません。

なぜなら、同時期に多くの申請があれば、当然申請期間が通常よりも長くなりますし、入管当局の幹部審査官の異動があれば、その審査方針も変化するからです。

つまり、入管当局への申請「実績」は、非常に流動的な要素を前提としているのです。

②については、前述のとおり入管当局は特段の事情があれば、結果を早く出すよう配慮してくれることがあります。

重要なのは、申請側の事情は申請側が入管当局に伝えない限り、入管当局は知ることができないという当たり前のことです。

この点、時折、自分たちの事情は当然に入管当局は知っているべきであるとの態度をとる申請人等を見かけますが、このような態度は厳に避けなければなりません。

なお、このケースの場合は、追加資料提出通知もなかったことから②についてしっかりと上申書を入管当局へ提出していたのであれば、マクドナルド氏は予定通り出張できたと予想されます。

 

 

sxcvghj

Copyright©株式会社TOHOWORKAll Rights Reserved. login